1000
CUỐN SÁCH TÓM TẮT
HAY NHẤT
MỌI THỜI ĐẠI
“Ứng dụng Đọc nhanh – Sách tóm tắt chắt lọc những nội dung quan trọng của các cuốn sách thành những tóm tắt ngắn gọn giúp bạn dễ dàng lĩnh hội tri thức và đọc được mọi lúc, mọi nơi”.
buy button
Many books
sách Tóm tắt
3-4 CUỐN
1 Ngày
fullbook
fullbook
sách giấy
3-4 ngày
1 Cuốn
fullbook

Lịch sử giao thương

"Thương mại định hình thế giới như thế nào? "

Về cuốn sách:

Cuộc trao đổi huy hoàng - A Splendid Exchange (2008) cung cấp một cái nhìn toàn diện về các sự kiện và phát minh giúp phát triển giao dịch tự do trên quy mô toàn cầu. Nó cũng cho thấy cuộc chiến giữa chính sách cô lập, chủ nghĩa bảo hộ với thương mại tự do đã diễn ra rất lâu, từ trước khi khái niệm toàn cầu hoá ra đời. Lịch sử đã cho thấy giao thương giữa các quốc gia là điều hiển nhiên và đem lại lợi ích nhưng cũng hé lộ nhiều mặt tối và sự hiểm nguy.

Ai nên đọc sách này:

* Các nhà kinh tế và sử học

* Những người muốn tìm hiểu về nguồn gốc của toàn cầu hóa

* Những người nghiên cứu thị trường tự do và nhà bảo hộ thương mại


Về tác giả:

William J. Bernstein là một nhà thần kinh học đã về hưu, nổi tiếng với các bài viết tập trung vào chiến lược đầu tư hiện đại và lịch sử tài chính. Các tác phẩm nổi tiếng của ông bao gồm "Khởi sinh sự sung túc: Của cải trong thế giới hiện đại được hình thành như thế nào" và "Bốn trụ cột trong ngành đầu tư".

Lịch sử giao thương

Cuốn sách giúp tìm hiểu về những thăng trầm của thương mại quốc tế hàng nghìn năm qua

Ngày nay, sự điều kỳ diệu mà thương mại quốc tế đem lại được chúng ta coi là một điều hiển nhiên. Chính thiết bị mà bạn đang dùng để đọc những dòng này, nó cũng là thành quả của giao thương quốc tế. Rất nhiều công ty như Apple thiết kế sản phẩm của họ tại Mỹ, nhập linh kiện từ khắp nơi trên thế giới để lắp ráp thành phẩm tại Trung Quốc và cuối cùng mới tung sản phẩm hoàn chỉnh ra thị trường quốc tế. Thương mại quốc tế là một phần tất yếu của cuộc sống, vắt nối với vô số khía cạnh trong cuộc sống thường ngày.

Tuy nhiên, thương mại quốc tế không phải lúc nào cũng đơn giản và phổ biến như vậy. Trước khi cách mạng công nghiệp diễn ra, khoảng cách và công nghệ nguyên thủy đã cản trở những nỗ lực mở rộng thị trường quốc tế. Cho đến Chiến tranh thế giới thứ hai, thương mại tự do bùng nổ và dần trở thành vấn đề tất yếu của xã hội hiện đại. Tuy nhiên, nó cũng tạo ra cả người chiến thắng lẫn kẻ thua cuộc. Điều này khiến người ta cảm thấy lo lắng về các khía cạnh của thương mại tự do sẽ làm nên những cản trở với nền kinh tế sau này. 

Qua cuốn sách này bạn sẽ hiểu được:
  • Lịch sử giao thương đã kéo dài hàng nghìn năm như thế nào?
  • Tại sao thúc đẩy thương mại lại dẫn đến việc tìm ra ra Châu Mỹ?
  • Tại sao sự bảo hộ lại làm trầm trọng thêm cuộc Đại suy thoái?


Thương mại bắt đầu ở Mesopotamia với nền nông nghiệp sơ khai và công cụ sản xuất đơn giản

Tại siêu thị địa phương nơi bạn sinh sống, bạn hoàn toàn có thể tìm thấy các mặt hàng hoa quả và rau củ từ những nơi xa xôi như Peru, New Zeland hay Bồ Đào Nha. Tại các cửa hàng thiết bị dân dụng phương Tây, bạn sẽ thấy bày bán những chiếc TV từ Đài Loan hoặc Nhật Bản. Hay trong các cửa hàng quần áo, bạn cũng sẽ tìm thấy những chiếc áo phông có xuất xứ từ Trung Quốc hay Bangladesh. 

Ngày nay, thương mại quốc tế chạm tới mọi ngóc ngách của cuộc sống nhưng chúng ta hiếm khi để tâm tới điều hiển nhiên này. Nếu muốn biết nền thương mại đã phát triển như thế nào để được như ngày nay, chúng ta phải quay ngược vài nghìn năm, trở về Mesopotamia, thuở sơ khai của những cuộc giao dịch.

Những dây chuyền buôn bán đầu tiên được hình thành quanh vùng Vịnh Ba Tư, nơi nông nghiệp đang trên đà phát triển và các phương pháp sản xuất cơ bản đã được sử dụng để tạo ra nhiều công cụ tiên tiến.

Một trong những sản phẩm đầu tiên được đem ra giao dịch là đá vỏ chai (hắc diệu thạch), một loại đá được coi là kim cương đen đến từ núi lửa. Vào thời tiền sử, bởi đặc tính dễ chế tạo thành vũ khí hoặc công cụ sắc nhọn mà chúng rất được ưa dùng. 

Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những mảnh vụn đá vỏ chai trong hang Franchthi ở Hy Lạp có niên đại tới hơn 12.000 năm. Cách duy nhất để giải thích cho sự có mặt của chúng ở đó chính là được vận chuyển từ nơi khác tới, rất có thể là từ Mesopotamia.

Mesopotamia được coi là cái nôi của nền văn minh nhân loại. Đây là vùng đất cổ đại màu mỡ nằm giữa sông Euphrates và sông Tigris, hai đường thủy nối tới Vịnh Ba Tư. Chính vì thế mà vùng đất này cũng được nhiều người biết đến với tên gọi Lưỡng Hà. Mesopotamia nổi tiếng dồi dào về mặt hàng hóa, bao gồm lúa mạch, cá và len. Tuy nhiên, nó cũng bị thiếu hụt một số nguồn lực quan trọng như gỗ, đá kim loại cần thiết để xây dựng vũ khí, tàu thuyền và nơi trú ẩn.

Từ đây, nhu cầu và lợi ích của thương mại nhanh chóng trở nên rõ nét. Các quốc gia ở Mesopotamia như Sumeria, Assyria và Babylonia sử dụng hàng hóa dư thừa để trao đổi với kim loại của Oman, đá cẩm thạch của Ba Tư và gỗ xẻ của Lebanon. Đó chính là lý do vì sao vịnh Ba Tư trở thành trung tâm giao dịch và thương mại đầu tiên từ 3000 năm trước công nguyên.

Khi nền văn minh từ từ lan sang phía tây đến Ai Cập và Hy Lạp, các tuyến thương mại mới dần hình thành ở Biển Đỏ và Địa Trung Hải. Hy Lạp bắt đầu xuất khẩu rượu vang và dầu để đổi lấy những loại hạt mà họ thiếu, ví dụ như lúa mì được nhập khẩu từ Ai Cập.


Lạc đà giúp cách mạng hóa thương mại ở châu Á, người Hồi giáo Ả Rập mở cửa giao thương với Trung Quốc

Thế Canh Tân hay Kỷ Băng Hà, là một thời kỳ kéo dài hàng triệu năm đủ để các sông băng được hình thành. Nó kết thúc vào khoảng 10,000 năm trước và ở thời điểm này con người đã tận dụng các khối băng trên sông với mục đích di chuyển từ Đông Siberia tới lục địa Châu Mỹ.

Được biết, con người không phải loài duy nhất sử dụng cây cầu băng tự nhiên này. Các loài động vật khác như ngựa cũng đi theo hướng ngược lại, từ Bắc Mỹ đến châu Á. Những con ngựa đầu tiên này chính là tổ tiên của lạc đà. Chúng phát triển khả năng dự trữ nước đặc biệt để tồn tại hoàn hảo ở các khu vực khô hạn nhất của châu Á, đặc biệt là Arabia.

Quay ngược thời gian khoảng 1500 năm trước Công Nguyên, lạc đà chỉ được nuôi để lấy sữa, con lừa mới là sự ưu tiên hàng đầu cho việc vận chuyển. Nhưng sau đó, các bộ lạc du mục bắt đầu dùng lạc đà vì bộ móng guốc lớn của chúng rất phù hợp để mang vác hàng hóa và chúng có thể mang vác đồ có trọng lượng nặng gấp đôi lừa. Không chỉ vậy, lạc đà di chuyển nhanh hơn lừa rất nhiều khi đi qua các địa hình sa mạc cằn cỗi, khắc nghiệt.

Sự xuất hiện của lạc đà mang tính cách mạng, ảnh hưởng lớn đến hệ thống giao thương cổ xưa dọc theo các vùng hoang mạc Ả Rập và thảo nguyên châu Á. Chúng góp phần giúp các mặt hàng xa xỉ như nhũ hương, hương liệu, các chất tạo mùi quý giá sớm có mặt khắp bán đảo Ả Rập và Biển Địa Trung Hải.

Khi thương mại tiến xuất hiện ở thời kỳ Trung cổ, Trung Quốc và người Hồi giáo bắt đầu tăng cường giao thương. Muhammad mà một nhà tiên tri sinh năm 571 sau Công Nguyên, được nuôi dưỡng bởi người chú Abu Talib - một thương nhân giàu có. Khi lớn lên, nhà tiên tri đã giúp chú của mình trong việc buôn bán các mặt hàng da, nho khô, hàng dệt và nhũ hương.

Các nguồn tin từ Trung Quốc cho rằng các thương nhân Hồi giáo đầu tiên đã đến Trung Quốc vào khoảng 620 năm sau Công Nguyên, họ đã mang theo hàng hóa như đồng, ngà, hương trầm và vỏ rùa. Khi quay trở về Ảrập Xêút, họ mang theo vàng, ngọc trai, lụa và thổ cẩm.

Đây là những hành trình đầy căm go qua các vùng sông nước và địa hình hiểm trở, nhưng khát vọng giàu có vẫn hấp dẫn nhiều thương nhân Hồi giáo. Ở thời điểm này, nhiều vụ đắm tàu đã xảy ra khiến mạng người và khối gia tài đồ sộ bị nhấn chìm xuống đại dương sâu thăm thẳm.

Phụ lục:
"Từ kẻ lạc lõng trong cộng đồng tôn giáo thế giới, người Hồi giáo đã được biết đến với tư cách là một thương nhân"


Gia vị dần trở nên phổ biến, nhưng chế độ nô lệ và bệnh tật lại trầm trọng hơn vì thương mại

Khi một khách hàng phương Tây mua một đôi giày thể thao, trong đầu họ thường mơ hồ về xuất xứ, không biết đôi giày sản xuất ở đâu? Trung Quốc hay Ấn Độ? Điều tương tự cũng xảy ra với buôn bán gia vị, các thương gia châu Âu ở Genoa hoặc Venice không biết nguồn gốc chính xác của quế hay hạt nhục đậu khấu đến từ đâu, tất cả những gì họ biết chỉ là "Chúng đến từ phương Đông".

Sự ưa chuộng gia vị bắt đầu xuất hiện ở Châu Âu khoảng 1000 năm sau Công Nguyên, ở thời Trung cổ, khi nhu cầu về các loại gia vị kỳ lạ đột nhiên tăng vọt. Các loại gia vị được nhiều người giàu có ở Châu Âu ưa chuộng đã giúp thương nhân ở đây kiếm được một khoản kha khá, trên thực tế, lợi nhuận lên đến hơn 100%.

Ngay cả bác sĩ và dược sĩ cũng bị chế ngự bởi "lời nguyền gia vị". Họ kê đơn và thêm các loại gia vị lạ vào mọi phương pháp chữa bệnh. Không phải vì những loại gia vị này chữa khỏi bách bệnh, mà bởi sự hiện diện của chúng làm phương thuốc trở nên hấp dẫn, thần bí hơn.

Mặt trái của vấn đề này chính là nạn buôn bán nô lệ bắt đầu bùng nổ. Các thương nhân châu Âu mua gia vị tại các thị trường Ả Rập, cũng giống như ở Cairo hoặc Alexandria, Ai Cập. Họ bán những người nô lệ, chủ yếu đến từ vùng Balkan, để thanh toán tiền gia vị. Những người này sau đó sẽ bị biến thành lính lệ Hồi giáo.

Các thương nhân Châu Âu không hề biết rằng, gia vị mà họ mua được giao dịch bởi những gã người Arap, chuyên đổi ngà voi và hương trầm lấy những thứ gia vị đang khan hiếm.

Chẳng bao lâu sau, một mối nguy hiểm khác của thương mại toàn cầu xuất hiện. Đó là bệnh dịch. Căn bệnh dịch tồi tệ nhất được biết đến cho đến nay là dịch hạch hay còn được gọi là "cái chết đen". Các khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất là những thành phố cảng như Venice, Genoa hoặc Bruges - nơi diễn ra nhiều phiên giao dịch thương mại.

Venice mất 60% dân số trong đợt tấn công đầu tiên của bệnh dịch hạch xảy ra năm 1348. Căn bệnh này được cho là có nguồn gốc từ đâu đó ở khu vực Himalaya của Trung Quốc. Từ nơi ấy, những con chuột bị nhiễm bệnh lén bò lên những con tàu đến Ả Rập, bọ chét từ chúng rơi vào kho hàng dệt được gửi đến châu Âu, khiến con người lẫn vật nuôi đều bị nhiễm bệnh.


Những nhà thám hiểm Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã mở rộng thế giới và các tuyến đường giao thương

Vào thế kỷ thứ mười lăm, Bồ Đào Nha được coi là ngôi sao đang lên của thị trường thương mại. Nhờ phát triển được một loại tàu chở hàng mới với nhiều cải tiến có tên là caravel, người Bồ Đào Nha đã hoàn thiện công nghệ hàng hải cho phép người châu Âu mở các tuyến thương mại riêng ở Ấn Độ Dương.

Các thương gia Bồ Đào Nha đã thiết lập nhiều cảng chiến lược dọc theo bờ biển phía Đông châu Phi. Họ là những người đầu tiên đi khắp Nam Phi và trở về Ấn Độ Dương. Tây Ban Nha cũng có những phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực này. Liên minh Tây Ban Nha - Bồ Đào Nha bắt tay khai thác mạnh về phía Tây, vào vùng biển mở rộng của Đại Tây Dương.

Vào thời kỳ này, những người có tri thức không còn tự lừa dối bản thân rằng "thế giới là một mặt phẳng" nữa. Họ hướng về phía Tây với hy vọng tìm thấy một tuyến đường đến Ấn Độ hoặc Trung Quốc nhanh hơn. Tuy nhiên, nhà thám hiểm người Ý Christopher Columbus lại bán ý tưởng của mình cho hoàng gia Tây Ban Nha.

Không ai biết chiều dài chính xác của tuyến đường phía Tây đến Ấn Độ là bao nhiêu, người ta đã ước tính bằng cách lấy chu vi của Trái Đất trừ đi chiều dài của con đường phía Đông. Khoảng cách này được các học giả cổ đại như Ptolemy tính toán, và cho ra kết quả chính xác một cách ngạc nhiên. Họ tính được khoảng cách đó dài hơn vài ngàn dặm so với tuyến đường phía Đông.

Bỏ ngoài tai những dự đoán này, Columbus vẫn quyết tâm theo đuổi tuyến đường phía Tây. Năm 1492, ông đến vùng Caribbean và nhầm tưởng nơi đây là Ấn Độ. Nhưng thực chất, vùng đất ông đặt chân đến chính là Châu Mỹ, từ đó, một thế giới mới ra đời và được ghi dấu trên bản đồ của người châu Âu. 

Năm 1519, Ferdinand Magellan, nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha, tiếp tục hành trình khám phá của mình và được coi là người đầu tiên thực hiện chuyến đi vòng quanh thế giới.  Xuất phát từ Tây Ban Nha, Magellan đi thuyền quanh mũi phía Nam của châu Mỹ và đến Philippines và bị giam giữ bởi những thổ dân nắm trong tay những cây giáo sắc nhọn. Juan Sebastián Elcano, một người Tây Ban Nha khác đã trở thành thuyền trưởng mới của tàu để tiếp tục cuộc hành trình. Ông đi dọc theo bờ biển châu Phi và trở lại Tây Ban Nha, hoàn thành hành trình vòng quanh thế giới.


Thế kỷ 17 đánh dấu sự ra đời của thương mại toàn cầu, Hà Lan trở thành trung tâm giao thương

Nhờ những hành trình vượt biển tuyệt vời trong thế kỷ 16, bao gồm cả chuyến đi của Columbus và Magellan, sự hiểu biết của nhân loại về thế giới ngày càng mở rộng khiến cho việc kinh doanh thương mại vẫn trên đà phát triển mạnh mẽ. Chính vì thế việc gây dựng nên mạng lưới kinh tế toàn cầu là hoàn toàn khả thi.

Sự khởi phát của giao thương quốc tế bắt đầu từ thế kỷ 17. Những thương nhân có tầm nhìn đầu tiên là người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Hà Lan. Chính quyền hùng mạnh của họ đã tôi luyện cho các thủy thủ những hiểu biết thấu đáo về cách tận dụng lợi thế từ những cơn gió biển. Kiến thức hữu ích này cho phép tàu giao dịch của họ vượt qua các đại dương trên thế giới dễ dàng, trong khi những người khác vẫn phải vật lộn khó khăn với việc vận chuyển.

Đến năm 1650, hàng hóa từ mọi nơi trên thế giới đã tràn lan khắp các thị trường toàn cầu. Việc tìm thấy các mặt hàng như ngô, lúa mì, cà phê, trà và đường tại những nơi xa vùng đất xuất xứ là hoàn toàn có thể.

Sau chuyến đi của Columbus, cây mía từ quần đảo Canary Tây Ban Nha đã được đưa đến vùng biển Caribbean để tạo lập nơi sản xuất mía quy mô lớn. Các thương gia châu Âu cảm thấy vô cùng háo hức trước thành quả này của họ. 

Với sự gia tăng thương mại toàn cầu, một số quốc gia bắt đầu tìm kiếm lợi ích chung bằng cách liên kết kinh doanh. Hai cường quốc lớn nhất vào thời điểm đó là nước Anh - nơi có Công ty Đông Ấn Anh quốc, và Hà Lan - nơi có Công ty Đông Ấn Hà Lan.

Trong suốt thế kỷ 16, cả hai quốc gia này đã trở thành siêu cường quốc toàn cầu. Hà Lan trở thành quốc gia châu Âu có tiềm lực tài chính hùng mạnh nhất. Đến năm 1600, mức lãi suất ở Hà Lan chỉ ở mức 4% đã thúc đẩy sự vay mượn và khiến tăng trưởng kinh tế dữ dội. Trong khi đó, những người đi vay ở nước Anh phải trả lãi suất 10% cho khoản vay của họ.

Hầu hết các nhà tư bản người Hà Lan đều mong muốn đầu tư tiền vào các tập đoàn thương mại như Công ty Đông Ấn Hà Lan. Điều đó đã giúp kinh tế Hà Lan phát triển.

"Sự quan trọng của tài chính trong thương mại giống như độ cao cần thiết để máy bay bay lên; không có nó, xác suất nền thương mại thất bại thê thảm là rất lớn"


Dù nước Anh từng gánh chịu hậu quả từ chủ nghĩa trọng thương, giao dịch tự do cuối cùng vẫn chiến thắng

Những năm 1600, Hà Lan luôn là nước đứng đầu về kinh tế, nhưng ở giai đoạn sau, uy quyền dần chuyển sang tay nước Anh.

Vào thế kỷ 18, Công ty Đông Ấn Anh Quốc (EIC) là doanh nghiệp lớn nhất thế giới, nắm giữ quyền kiểm soát buôn bán bông có lợi nhuận cao giữa Ấn Độ và Anh.

EIC là một ví dụ điển hình về sự độc quyền tàn bạo. Không ngạc nhiên khi nó chính là mục tiêu đầu tiên nhận được sự khinh miệt từ những người ủng hộ thương mại tự do như nhà kinh tế học Adam Smith. Với ngài Smith, rõ ràng chính phủ Anh nên hỗ trợ nhiều doanh nghiệp để thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, thay vì điều hành một nhà nước độc quyền.

Tuy nhiên, vào thời điểm đó, lý thuyết kinh tế phổ biến là chủ nghĩa trọng thương rất tôn sùng niềm tin "thương mại quốc tế là một trò chơi được mất ngang nhau". EIC vận hành theo ý tưởng của cải không bao giờ là đủ, vì vậy, nếu họ trở nên giàu có thì những người khác sẽ phải nghèo đi. Lý thuyết của chủ nghĩa trọng thương cũng cho rằng trữ lượng vàng và bạc của một quốc gia phản ánh trực tiếp sự giàu có của quốc gia đó. Ngược lại, điều này dẫn đến các quốc gia trọng thương như Anh ban bố luật cấm chi tiêu cho hàng nhập khẩu, đồng thời khuyến khích xuất khẩu. Vào năm 1721 ở Anh, nếu bạn bị bắt gặp mặc trang phục bằng vải cotton nhập khẩu, bạn sẽ phải chịu một khoản phạt £5.

Trong khi đó, những người ủng hộ thương mại tự do như Henry Martyn lại cố gắng thuyết phục mọi người rằng, số tiền một quốc gia tiêu thụ mới thực sự xác định sự giàu có của quốc gia, chứ không phải số của cải mà quốc gia sở hữu. Và phải đến thế kỷ 19 thì lý thuyết về tự do thương mại mới bắt đầu được công nhận.

Luận án kinh tế của Adam Smith, The Wealth of Nations – "Nguồn gốc của cải của các quốc gia" đã tạo ảnh hưởng lớn và định hướng nền kinh tế nước Anh, khuyến khích nhiều doanh nghiệp cạnh tranh để cung cấp sản phẩm tốt nhất về giá cả.

Các nguyên tắc về kinh tế chính trị và thuế của David Ricardo từ năm 1817 cũng giúp đặt nền móng cho nền kinh tế mới dựa trên luật so sánh. Ricardo nhận ra rằng, một quốc gia nên tập trung sản xuất các mặt hàng trong khả năng, trong khi vừa nhập khẩu những thứ không thể tự sản xuất. Năm 1860, Hiệp ước Cobden-Chevalier của Anh đã xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với hàng hóa như bông Pháp, giúp lan rộng tinh thần tự do thương mại khắp châu Âu.


Tàu hơi nước và kỹ thuật đông lạnh đã cách mạng hóa thương mại quốc tế và xuyên lục địa

Ngành công nghiệp sản xuất ngày nay giống như một điệu nhảy công phu có sự tham gia của rất nhiều đất nước. 

Những bộ phận riêng lẻ của xe hơi, máy tính, TV và loa đài... được sản xuất ở các quốc gia khác nhau, sau đó, chúng lại được vận chuyển đi để lắp ráp ở một nơi khác. Linh kiện của một số sản phẩm đặc biệt còn được vận chuyển qua hai đại dương vài lần trước khi chúng trở thành một sản phẩm hoàn chỉnh để sẵn sàng bày bán.

Bạn có thể cho rằng đây là một cách làm ăn mới, nhưng sản xuất toàn cầu đã có từ thế kỷ 19. Sự phát triển này có được là nhờ những đột phá về công nghệ, giúp cho giao thông vận tải đường dài và thương mại trở nên dễ dàng hơn.

Tàu hơi nước chính là phát kiến ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của nền kinh tế. Giao thương ngày càng hiệu quả nhờ sử dụng tàu thuyền chuyên chở. Tàu hơi nước đã trở thành phương tiện vận chuyển được ưa thích vào năm 1890.

Sự phát triển tiếp theo là đường sắt, với đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước, cách mạng hóa việc vận chuyển trên đất liền, mạnh mẽ nhất là ở Hoa Kỳ. Đường sắt giúp vận chuyển hàng hóa từ bờ biển này sang bờ biển khác bất kể điều kiện thời tiết ra sao.

Sau đó, vào năm 1830, kỹ thuật đông lạnh cho phép hàng hóa như hoa tươi, thịt bò... vẫn giữ được độ tươi trong những chuyến đi dài. Đến cuối những năm 1800, nhờ phương pháp đông lạnh mà Hoa Kỳ đã gửi được hằng trăm nghìn tấn thịt bò sang Anh mỗi năm. 

Đến năm 1900, chi phí vận chuyển được cắt giảm tối đa khiến thương mại xuyên lục địa có những chuyển biến tích cực. Các loại hạt của Mỹ hiện có thể cạnh tranh với ngũ cốc châu Âu, hay cư dân trên toàn thế giới có thể mua hoa tulip và ăn dâu tây quanh năm suốt tháng. 

Những phát triển này đặc biệt quan trọng với giao thương hàng hóa số lượng lớn, như than đá và quặng. Các nhà máy luyện kim của Anh đã nhập khẩu quặng từ khắp nơi trên thế giới, bao gồm Tây Ban Nha, Cuba, Úc, Chile và Arizona, và gửi than về từng điểm đến này.


Khủng hoảng kinh tế là hậu quả của việc hạn chế thương mại tự do

Bước sang thế kỷ 20, thương mại tự bắt đầu do vận hành mạch lạc và nhuần nhuyễn. Tuy nhiên, một loạt các sự kiện trong khoảng những năm 1920 đã nhấn chìm thương mại tự do, và cuối cùng, dẫn đến cuộc Đại suy thoái.

Tất cả bắt đầu vào năm 1920, sự tồn tại của Biểu giá Fordney-McCumber đặt ra làn sóng chủ nghĩa bảo hộ tại Hoa Kỳ.

Tổng thống đảng Cộng hòa Warren G. Harding đã ban hành luật thuế quan. Luật này được thiết kế để bảo vệ các nhà máy và nông dân Hoa Kỳ bằng cách đặt mức thuế nhập khẩu cho hàng hóa khác nhau ở mức trên 40%. Khi được ban hành lần đầu tiên, đạo luật mới dường như rất có hiệu quả, dẫn đến thời kỳ hạnh phúc mang tên Roaring Twenties – Thập kỷ 1920. Tuy nhiên, giai đoạn này đã nhanh chóng sụp đổ.

Những năm 1930 Đại suy thoái nổ ra, các chính trị gia đảng Cộng hòa ra sức bảo hộ những nỗ lực về kinh tế. Thậm chí, họ còn thể hiện sự khắt khe bằng cách thông qua Đạo luật Thuế quan Smoot-Hawley, tăng thuế nhập khẩu lên mức cao. Thuế quan nhập khẩu thời điểm đó gần chạm ngưỡng 60%.

Để hiểu được tại sao Mỹ lại đi theo hướng này, chúng ta cần nhìn lại sự phát triển thương mại trong thế kỷ 19. Năm 1870, giá thịt ở Liverpool cao gấp 93% so với Chicago. Nhưng vào năm 1913, sự khác biệt đó đã giảm xuống, giống như một miếng thịt bò khô, chỉ còn 16%.

Điều này xảy ra là do giá vận chuyển trở nên quá rẻ mạt. Giá cả hàng hóa nhập khẩu đang dần đồng nhất với giá cả hàng hóa địa phương, và sự cạnh tranh nổ ra, cụ thể ở đây là mặt hàng thực phẩm của Hoa Kỳ. Vì vậy, để bảo vệ doanh nghiệp địa phương, các thương nhân yêu cầu được bảo hộ. Điều khiến cho vấn đề trở nên tệ hơn đó là phản ứng của Châu Âu. Các quốc gia châu Âu đã ban hành mức thuế nhập khẩu riêng với hàng hóa của Hoa Kỳ, bao gồm cả xe hơi hay radio, vượt quá 50%.

Các nhà kinh tế học ngày nay chỉ ra, Đạo luật Smoot-Hawley là một trong những nguyên nhân chính gây nên cuộc Đại suy thoái. Thế nhưng, ngay cả khi đạo luật biến mất, xu hướng bảo hộ vẫn không thể tồn tại lâu dài.


Hoa Kỳ chấp nhận tự do thương mại sau chiến tranh nhưng điều này cũng là tiền đề tạo nên mối nguy bất bình đẳng trong xã hội

Hoa Kỳ đã đặt dấu chấm hết cho tự do thương mại vào đầu thế kỷ 20, những đến những năm 1950, Hoa Kỳ lại bắt đầu nơi lỏng.

Sự thay đổi thái độ này xảy ra vào năm 1945, khi Chiến tranh Thế giới thứ II kết thúc. Vì là nước cuối cùng trụ lại sau chiến tranh, Hoa Kỳ ít e ngại phải cạnh tranh nước ngoài. Những cánh cửa vào thị trường tự do lại một lần nữa mở rộng.

Sự tiến bộ vượt bậc trong vận chuyển toàn cầu cũng giúp ích họ rất nhiều. Động cơ đốt trong và máy bay cải tiến, cũng như các container vận chuyển mới đã khiến thương mại tự do không chỉ mang lại lợi ích mà còn có ý nghĩa về mặt kinh tế.

Một suy nghĩ phổ biến ở Hoa Kỳ thời bấy giờ là nếu áo phông Mỹ có thể được sản xuất với chi phí rẻ hơn ở một nước khác, thì quá trình sản xuất nên được chuyển tới đó ngay và luôn. Đây chính là chiến lược mang lại rất nhiều tài sản cho Hoa Kỳ trong những năm sau chiến tranh.

Thống kê cho thấy tất cả các quốc gia tự do thương mại đều có tốc độ tăng trưởng cao trong thế kỷ 20 - cao hơn các quốc gia không tham gia tự do thương mại. Dữ liệu cũng cho thấy thương mại tự do có thể cho phép một nước đang phát triển gia nhập hàng ngũ quyền lực trên thế giới. Tuy nhiên, giao dịch tự do không mang lại lợi ích cho tất cả mọi người.

Khắp nơi phát triển, nhưng những người lao động có tay nghề thấp nhận ra giao dịch tự do đem lại rất ít thù lao cho công việc, lợi ích của họ khác biệt hoàn toàn với quản lý và những người có tay nghề cao. Hiện nay, lương của công nhân phương Tây vẫn ở mức trung bình, không có sự thay đổi, trong khi đó, mức lương người điều hành ngày càng tăng cao.

Rõ ràng đây là sự chênh lệch thu nhập và bất bình đẳng chung trong xã hội. Đó cũng là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây rối loạn chính trị xã hội và giải đáp lý do tại sao việc thu hẹp khoảng cách này cần được ưu tiên.

Sự bất ổn không chỉ là vấn đề trách nhiệm của mỗi công dân, mà nó còn ngăn cản đầu tư và làm chậm quá trình phát triển kinh tế. Vì vậy, vấn đề này cần được ưu tiên giải quyết hàng đầu, giúp sớm thu hẹp khoảng cách thu nhập của các cá nhân trong toàn xã hội.


Tổng kết

Thông điệp của cuốn sách này:

Con người đã giao dịch với nhau từ thời cổ đại bằng cách nuôi trồng và sản xuất các công cụ cơ bản. Con người không ngừng khám phá, mở rộng các tuyến đường giao thương và các quốc gia nhanh nhạy trong việc nắm bắt xu thế của nền kinh tế đã trở thành siêu cường quốc. Lịch sử cho thấy, thương mại tự do mang lại nhiều lợi ích hơn chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa bảo hộ. Tuy nhiên, nó cũng dẫn đến bất bình đẳng rộng rãi. Đây chính là lý do tại sao chúng ta cần phải cải thiện sự bất ổn này, giải quyết triệt để những vấn đề bất bình đẳng diễn ra trên toàn thế giới.

KHOẢNH KHẮC BẠN ĐƯA RA QUYẾT ĐỊNH, SỐ PHẬN CỦA BẠN BẮT ĐẦU
CUỘC SỐNG CHỈ LÀ VẤN ĐỀ CỦA SỰ LỰA CHỌN

item-icons
Đọc sách tóm tắt online

Bạn có thể dễ dàng đọc bằng điện thoại, tablet, ipad... ở mọi lúc, mọi nơi, mọi thời điểm.

item-icons
Chuyển khoản ngay Nhận mã liền tay

Bạn có thể nhận ngay mã code khi hoàn thành chuyển khoản

item-icons
Ship COD toàn quốc

Miễn phí vận chuyển mã code đến tận tay khách hàng, được kiểm tra trước khi thanh toán

Hướng dẫn sử dụng ứng dụng

Hướng dẫn sử dụng bước 1

Bước 1

Tải ứng dụng ĐỌC NHANH

app store va google play
tiếp theo
Hướng dẫn sử dụng bước 2

Bước 2

Đăng nhập bằng Facebook hoặc google

tiếp theo
Hướng dẫn sử dụng bước 3

Bước 3

Chọn biểu tượng Khóa để nhập code

tiếp theo
Hướng dẫn sử dụng bước 4

Bước 4

Nhập mã sau đó ấn kích hoạt để mở khóa